NHỮNG LƯU Ý KHI MUA BẢO HIỂM CÔNG TRÌNH THEO NGHỊ ĐỊNH MỚI 220

Nghị định số 220/2026/NĐ-CP được ban hành ngày 22/6/2026 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, sửa đổi nhiều nội dung quan trọng của Nghị định số 67/2023/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc, trong đó có bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng. Những thay đổi mới tác động trực tiếp đến việc xác định công trình phải mua bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, cách phân loại biểu phí, quyền giảm phí, trách nhiệm của chủ đầu tư và việc thu xếp tái bảo hiểm đối với các dự án đặc biệt.

Điều đáng chú ý là Nghị định 220 không chỉ điều chỉnh một vài mức phí trong biểu phí. Văn bản mới thay đổi cả cách xác định giá trị thiết bị, cơ chế kiểm soát tăng giảm phí, trách nhiệm cung cấp thông tin và hồ sơ cần có khi doanh nghiệp bảo hiểm cấp đơn dựa trên xác nhận của nhà tái bảo hiểm đứng đầu.

1. Thay đổi cách xác định công trình phải mua bảo hiểm bắt buộc

Theo Nghị định 67, đối tượng phải mua bảo hiểm bắt buộc công trình trong thời gian xây dựng được xác định bằng các tiêu chí có dẫn chiếu cụ thể tới một số phụ lục của pháp luật xây dựng và bảo vệ môi trường.

Nghị định 220 thay Điều 32 bằng ba nhóm công trình:

1. Công trình có ảnh hưởng lớn đến an toàn, lợi ích cộng đồng theo quy định của pháp luật về xây dựng.

2. Công trình xây dựng có nguy cơ tác động xấu đến môi trường ở mức độ cao hoặc có nguy cơ tác động xấu đến môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

3. Công trình quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp theo quy định của pháp luật về xây dựng.”

Điểm mới nằm ở việc Nghị định 220 sử dụng cách dẫn chiếu theo hệ thống pháp luật hiện hành, thay vì gắn cứng với một nghị định hoặc phụ lục cụ thể. Cách quy định này giúp văn bản bảo hiểm không bị lỗi thời khi pháp luật xây dựng hoặc môi trường thay đổi.

Tuy nhiên, trong thực tế, chủ đầu tư và doanh nghiệp bảo hiểm sẽ phải kiểm tra văn bản chuyên ngành đang có hiệu lực tại thời điểm triển khai dự án. Không thể chỉ dựa vào tên công trình hoặc tổng giá trị đầu tư để kết luận công trình có thuộc diện bắt buộc hay không.

2. Siết chặt việc cập nhật số tiền bảo hiểm

Nghị định 67 xác định số tiền bảo hiểm tối thiểu là giá trị đầy đủ của công trình khi hoàn thành, bao gồm vật liệu, nhân công, thiết bị, vận chuyển, thuế, phí và các hạng mục do chủ đầu tư cung cấp. Số tiền này không được thấp hơn tổng giá trị hợp đồng xây dựng, kể cả phần điều chỉnh hoặc bổ sung.

Nghị định 220 giữ nguyên nguyên tắc trên nhưng bổ sung hai yêu cầu quan trọng:

Số tiền bảo hiểm tối thiểu đối với bảo hiểm bắt buộc công trình trong thời gian xây dựng là giá trị đầy đủ của công trình khi hoàn thành, bao gồm toàn bộ vật liệu, chi phí nhân công, thiết bị lắp đặt vào công trình, cước phí vận chuyển, các loại thuế, phí khác và các hạng mục khác do chủ đầu tư cung cấp. Số tiền bảo hiểm tối thiểu đối với công trình trong thời gian xây dựng không được thấp hơn tổng giá trị hợp đồng xây dựng, kể cả giá trị điều chỉnh, bổ sung (nếu có).

Số tiền bảo hiểm tối thiểu được quy định tại Hợp đồng bảo hiểm. Trong trường hợp có thay đổi về số tiền bảo hiểm tối thiểu do điều chỉnh giá trị công trình xây dựng, bên mua bảo hiểm phải có trách nhiệm thông tin cho doanh nghiệp bảo hiểm trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày điều chỉnh giá trị công trình xây dựng hoặc theo thỏa thuận tại Hợp đồng bảo hiểm.

Vì vậy, hợp đồng bảo hiểm nên quy định rõ:

  • Tài liệu nào được coi là căn cứ điều chỉnh giá trị công trình;
  • Thời điểm phần tăng thêm bắt đầu được bảo hiểm;
  • Cách tính phí bổ sung;
  • Trách nhiệm thông báo của chủ đầu tư và nhà thầu;
  • Cách xử lý khi thông báo chậm.

3. Thay đổi quan trọng trong cách xác định tỷ trọng thiết bị 50%

Đây là một trong những thay đổi có ảnh hưởng lớn nhất đến các dự án nhà máy.

Nghị định 67 trước đây phân loại công trình dựa trên tỷ lệ chi phí thực hiện phần công việc lắp đặt so với tổng giá trị hạng mục được bảo hiểm.

Nghị định 220 chuyển sang tiêu chí bao gồm công việc lắp đặt thiết bị và giá trị lắp đặt thiết bị Cụ thể:

1. Đối với công trình xây dựng có giá trị dưới 1.000 tỷ đồng, không bao gồm phần công việc lắp đặt thiết bị công trình và thiết bị công nghệ (sau đây gọi là lắp đặt thiết bị) hoặc có bao gồm phần lắp đặt thiết bị nhưng giá trị lắp đặt thiết bị vào công trình thấp hơn 50% tổng giá trị hạng mục công trình xây dựng được bảo hiểm: Mức phí bảo hiểm và mức khấu trừ bảo hiểm quy định tại khoản 1 Mục I Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này.

2. Đối với công trình xây dựng có giá trị dưới 1.000 tỷ đồng, có bao gồm công việc lắp đặt thiết bị và giá trị lắp đặt thiết bị chiếm từ 50% trở lên tổng giá trị hạng mục công trình xây dựng được bảo hiểm: Mức phí bảo hiểm và mức khấu trừ bảo hiểm quy định tại khoản 1 Mục II Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này.”

Ví dụ, một hạng mục nhà máy có tổng giá trị 800 tỷ đồng, trong đó thiết bị được lắp đặt trị giá 500 tỷ đồng. Tỷ trọng thiết bị là:

500 tỷ đồng ÷ 800 tỷ đồng = 62,5%.

Hạng mục này thuộc nhóm có tỷ trọng thiết bị từ 50% trở lên và phải tra biểu phí tại Mục II, dù chi phí nhân công thực hiện việc lắp đặt có thể chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ.

Đối với công trình có nhiều hạng mục, việc tính tỷ lệ phải được thực hiện theo từng hạng mục được bảo hiểm. Không nên lấy tổng giá trị thiết bị của toàn dự án chia cho tổng giá trị dự án nếu các hạng mục có tính chất và biểu phí khác nhau.

4. Doanh nghiệp bảo hiểm không còn được giảm phí một cách tùy ý

Nghị định 220 tiếp tục cho phép doanh nghiệp bảo hiểm tăng hoặc giảm phí tối đa 25% tùy theo mức độ rủi ro. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải xây dựng quy trình khai thác và thẩm định, trong đó quy định rõ: “Doanh nghiệp bảo hiểm phải căn cứ vào mức độ rủi ro của đối tượng bảo hiểm để xác định mức tăng hoặc giảm phí bảo hiểm tối đa 25% tính trên phí bảo hiểm.

Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm thiết lập quy trình khai thác, thẩm định đối với bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng trong đó thể hiện rõ các căn cứ, tiêu chí đánh giá mức độ rủi ro của các đối tượng bảo hiểm, thẩm quyền, phân cấp thẩm quyền tăng hoặc giảm phí và phải đảm bảo trong mọi trường hợp áp dụng căn cứ tăng hoặc giảm phí đều không được quá 25% tính trên phí bảo hiểm. Quy trình khai thác và thẩm định này phải được chuyên gia tính toán xác nhận và hàng năm phải được kiểm toán nội bộ thực hiện kiểm toán về tính tuân thủ và tính an toàn, hiệu quả”

Điều này đồng nghĩa với việc mức giảm phí không chỉ là kết quả của đàm phán thương mại. Doanh nghiệp bảo hiểm phải chứng minh mức giảm phù hợp với kết quả thẩm định rủi ro và quy trình nội bộ đã được phê duyệt.

5. Hai trường hợp không được giảm phí

Nghị định 220 bổ sung khoản 2a Điều 37, quy định doanh nghiệp bảo hiểm không được giảm phí so với tỷ lệ tại Phụ lục III trong hai trường hợp.

Công trình thuộc vùng nguy cơ thiên tai

Trường hợp thứ nhất là công trình tại các tỉnh, thành thuộc vùng nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, theo quy định về dự báo, cảnh báo, truyền tin thiên tai và cấp độ rủi ro thiên tai.

Quy định này giúp hạn chế việc giảm phí đối với các công trình có mức độ tích tụ rủi ro thiên tai cao.

Doanh nghiệp bảo hiểm lỗ nghiệp vụ tài sản ba năm liên tiếp

Trường hợp thứ hai là doanh nghiệp bảo hiểm có lỗ thuần nghiệp vụ bảo hiểm tài sản trong ba năm tài chính liên tiếp, xác định theo Mẫu số 3 Phụ lục X mới.

Quy định này hướng tới việc ngăn doanh nghiệp tiếp tục giảm phí khi kết quả nghiệp vụ đã không bảo đảm hiệu quả trong thời gian dài. Về bản chất, đây là biện pháp tăng kỷ luật định phí và bảo vệ an toàn tài chính của thị trường bảo hiểm.

6. Chủ đầu tư có thể giao nhà thầu mua bảo hiểm nhưng không được chuyển hết trách nhiệm

Nghị định 220 làm rõ chủ đầu tư là người có trách nhiệm mua bảo hiểm bắt buộc công trình trong thời gian xây dựng. Chủ đầu tư có quyền giao nhà thầu thực hiện việc mua bảo hiểm, nhưng việc giao này không làm thay đổi trách nhiệm của chủ đầu tư.

Chủ đầu tư vẫn phải theo dõi và giám sát để bảo đảm công trình được bảo hiểm đúng quy định.

Đối với công trình có nhiều hạng mục, chủ đầu tư còn phải cung cấp giá trị của từng hạng mục để xác định tỷ lệ phí tương ứng. Nếu mua bảo hiểm riêng theo từng hạng mục:

  • Số tiền bảo hiểm của từng hạng mục không được thấp hơn giá trị đầy đủ của hạng mục khi hoàn thành;
  • Tổng số tiền bảo hiểm của các hạng mục không được thấp hơn số tiền bảo hiểm tối thiểu của toàn công trình.

Trong hợp đồng xây dựng, các bên nên quy định rõ ai là bên thanh toán phí, ai là bên mua bảo hiểm, các chủ thể được bảo hiểm, người có quyền nhận tiền bồi thường và trách nhiệm cập nhật giá trị công trình.

7. Yêu cầu về lead reinsurer đối với công trình đặc biệt

Nghị định 220 bổ sung rõ nhà máy điện hạt nhân và các công trình chưa thuộc những nhóm đã được quy định tại điểm a, b và c khoản 1 Điều 37.

Đối với các công trình này, doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm có thể thỏa thuận:

  • Quy tắc bảo hiểm;
  • Điều khoản bảo hiểm;
  • Mức phí;
  • Mức khấu trừ.

Tuy nhiên, phương án phải dựa trên bằng chứng nhà tái bảo hiểm đứng đầu xác nhận nhận tái bảo hiểm đúng theo các nội dung mà doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp cho bên mua bảo hiểm. Các nhà tái bảo hiểm có tỷ lệ nhận từ 10% tổng trách nhiệm trở lên cũng phải đáp ứng yêu cầu về xếp hạng tín nhiệm.

Cần lưu ý rằng quy định này không có nghĩa mọi công trình nhà máy đều phải áp dụng cơ chế lead reinsurer. Trước hết phải xác định công trình có thuộc điểm a, b hoặc c hay không. Chỉ nhà máy điện hạt nhân và công trình chưa được quy định tại các nhóm đó mới thuộc điểm d.

Quy định cũng không bắt buộc chủ đầu tư phải thuê môi giới bảo hiểm. Nếu có môi giới, môi giới có thể hỗ trợ thu xếp, kiểm tra và đối chiếu hồ sơ, nhưng trách nhiệm cung cấp bằng chứng xác nhận tái bảo hiểm vẫn phải được thể hiện trong phương án cấp đơn của doanh nghiệp bảo hiểm.

8. Phụ lục III mới thay đổi phạm vi một số nhóm công trình

Nghị định 220 thay toàn bộ Phụ lục III về mức phí và mức khấu trừ bảo hiểm bắt buộc công trình.

Qua đối chiếu, một số nhóm công trình trong Nghị định 67 được quy định từ cấp III trở lên, trong khi Phụ lục III mới ghi cấp II trở lên.

Cần hiểu thứ tự cấp công trình từ cao xuống thấp là:

Cấp đặc biệt → Cấp I → Cấp II → Cấp III → Cấp IV.

Vì vậy:

  • Cấp III trở lên gồm cấp III, cấp II, cấp I và cấp đặc biệt;
  • Cấp II trở lên chỉ gồm cấp II, cấp I và cấp đặc biệt.

Việc đổi từ “cấp III trở lên” sang “cấp II trở lên” là thu hẹp phạm vi của chính dòng công trình đó, vì công trình cấp III không còn được bao gồm.

Ví dụ, Nghị định 67 ghi một số công trình giáo dục, y tế, thể thao và văn hóa từ cấp III trở lên. Phụ lục III mới ghi các nhóm tương ứng từ cấp II trở lên.

Tương tự, một số nhóm công nghiệp như khai thác mỏ, dầu khí và năng lượng trước đây được thể hiện từ cấp III trở lên, trong khi phụ lục mới sử dụng ngưỡng cấp II trở lên.

Tuy nhiên, không nên chỉ nhìn Phụ lục III để kết luận một công trình cấp III có còn phải mua bảo hiểm bắt buộc hay không. Điều 32 mới là quy định xác định đối tượng bảo hiểm. Phụ lục III chủ yếu dùng để xác định biểu phí và mức khấu trừ. Trường hợp công trình thuộc Điều 32 nhưng không có dòng biểu phí tương ứng rõ ràng cần được doanh nghiệp bảo hiểm làm rõ trước khi cấp đơn.

9. Một số loại trừ bảo hiểm được diễn đạt rộng hơn

Nghị định 220 sửa hai trường hợp loại trừ:

  • Tổn thất do mục rữa diễn ra trong điều kiện áp suất, nhiệt độ bình thường;
  • Tổn thất do kết tạo vẩy cứng như han gỉ, đóng cặn hoặc hiện tượng tương tự.

So với cách quy định cũ vốn gắn từng loại trừ với từng nhóm công trình, cách diễn đạt mới bỏ giới hạn đó. Về mặt câu chữ, phạm vi áp dụng của các loại trừ trở nên rộng hơn.

Chủ đầu tư và tư vấn bảo hiểm nên kiểm tra kỹ wording hợp đồng, đặc biệt đối với các dự án có thiết bị, đường ống, bồn chứa hoặc kết cấu có nguy cơ ăn mòn, đóng cặn trong thời gian xây dựng, lắp đặt và chạy thử.

10. Thay đổi trách nhiệm cung cấp thông tin

Nghị định 220 bổ sung trách nhiệm cung cấp thông tin cho một số chủ thể:

  • Nhà thầu tư vấn khảo sát và thiết kế phải cung cấp thông tin về giá trị công trình để xác định phí bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp;
  • Chủ đầu tư có trách nhiệm phối hợp cung cấp thông tin;
  • Nhà thầu thi công phải cung cấp thông tin phục vụ xác định mức phí bảo hiểm trách nhiệm đối với bên thứ ba.

Quy định này cho thấy việc tính phí không còn là trách nhiệm riêng của doanh nghiệp bảo hiểm. Chủ đầu tư, nhà thầu và tư vấn phải phối hợp cung cấp dữ liệu chính xác, đặc biệt là giá trị công trình, giá trị từng hạng mục, tỷ trọng thiết bị và thời gian thực hiện dự án.

Kết luận

Nghị định 220 tạo ra cơ chế quản lý chặt chẽ hơn đối với bảo hiểm bắt buộc công trình, đặc biệt trong việc xác định số tiền bảo hiểm, phân loại tỷ trọng thiết bị, kiểm soát giảm phí và thu xếp tái bảo hiểm.

So với Nghị định 67, văn bản mới có ưu điểm là tăng tính minh bạch và hạn chế tình trạng định phí không phản ánh đúng rủi ro. Tuy nhiên, một số nội dung như cách xác định vùng nguy cơ thiên tai, thời điểm tra cứu cảnh báo và cách áp dụng biểu phí đối với công trình không còn được liệt kê rõ trong Phụ lục III vẫn cần được cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn thêm.

Đối với chủ đầu tư và nhà thầu, điều quan trọng nhất không chỉ là mua bảo hiểm đúng thời hạn, mà còn phải bảo đảm công trình được phân loại đúng, kê khai đủ giá trị và áp dụng đúng tỷ lệ phí, mức khấu trừ cũng như điều kiện tái bảo hiểm.

Bài viết mang tính chất cung cấp thông tin và tham khảo chung. Việc áp dụng cho từng dự án cần căn cứ hồ sơ thiết kế, cấp công trình, cơ cấu giá trị hạng mục, hợp đồng xây dựng và các văn bản pháp luật có hiệu lực tại thời điểm thực hiện.

Hỗ trợ trực tuyến

  • Ms Ngọc Anh0868815815

Tài liệu dự án

Tải xuống